ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN KHOA VẬT LÝ  facebook    RSS    SiteMap
 TRANG CHỦ   >  ĐÀO TẠO  >  CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
FaceBookDeliciousGoogleTwitterDiggYahooRedditMySpaceMagnoliaNewsvineStumbleuponTechnoratiFurlBlogMarksYahoo Buzz
Đăng vào Thứ năm, ngày 08/06/2017
Giáo dục Stem và công tác chuẩn bị của trường Sư Phạm
TS. Vũ Thị Hồng Hạnh Báo cáo tại Hội thảo GIÁO DỤC STEM TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG VIỆT NAM, Hà nội, ngày 30 tháng 5 năm 2017
1. Một số vấn đề chung
STEM là viết tắt của các từ Science (khoa học), Technology (công nghệ), Engineering (kỹ thuật) và Math (toán học). Giáo dục STEM về bản chất được hiểu là trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật  và toán học. Các kiến thức và kỹ năng này (gọi là kỹ năng STEM) phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể áp dụng để thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày.
Những kỹ năng STEM là tích hợp của 4 kỹ năng:
* Kỹ năng khoa học:  Học sinh được trang bị những kiến thức về các khái niệm, các nguyên lý, các định luật và các cơ sở lý thuyết của giáo dục khoa học. Mục tiêu quan trọng nhất là thông qua giáo dục khoa học, học sinh có khả năng liên kết các kiến thức này để thực hành và có tư duy để sử dụng kiến thức vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong thực tế.
 * Kỹ năng công nghệ: Học sinh có khả năng sử dụng, quản lý, hiểu biết, và truy cập được công nghệ từ những vật dụng đơn giản như cái bút, chiếc quạt đến những hệ thống phức tạp như mạng internet, máy móc.
 * Kỹ năng kỹ thuật:  Học sinh được trang bị kỹ năng sản xuất ra đối tượng và hiểu được quy trình để làm ra nó. Vấn đề này đòi hỏi học sinh phải có khả năng phân tích, tổng hợp và kết hợp để biết cách làm thế nào để cân bằng các yếu tố liên quan (như khoa học, nghệ thuật, công nghệ, kỹ thuật) để có được một giải pháp tốt nhất trong thiết kế và xây dựng quy trình. Ngoài ra học sinh còn có khả năng nhìn nhận ra nhu cầu và phản ứng của xã hội trong những vấn đề liên quan đến kỹ thuật.
* Kỹ năng toán học: Là khả năng nhìn nhận và nắm bắt được vai trò của toán học trong mọi khía cạnh tồn tại trên thế giới. Học sinh có kỹ năng toán học sẽ có khả năng thể hiện các ý tưởng một cách chính xác, có khả năng áp dụng các khái niệm và kĩ năng toán học vào cuộc sống hằng ngày.
Chương trình giáo dục của thế kỷ 20 chủ yếu tập trung vào Khoa học (S) và Toán học (M) mà xem nhẹ vai trò của công nghệ (T) và kỹ thuật (E). Không chỉ cần Toán học và Khoa học, trong thế kỷ 21 học sinh còn cần công nghệ và kỹ thuật cũng như các kỹ năng mềm cần thiết khác. Song song kỹ năng STEM, Giáo dục STEM cũng trang bị cho học sinh những kỹ năng phù hợp để phát triển trong thế kỷ 21. Bộ kỹ năng Thế kỷ 21 được tóm tắt gồm những kỹ năng chính:
-    Tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề
-     Kỹ năng trao đổi và cộng tác
-     Tính sáng tạo và kỹ năng phát kiến
-     Văn hóa công nghệ và thông tin truyền thông
-     Kỹ năng làm việc theo dự án
-     Kỹ năng thuyết trình
Các kỹ năng về kỹ thuật cho phép học sinh có thể tiếp cận những phương pháp, nền tảng để thiết kế và xây dựng các thiết bị từ đơn giản đến phức tạp mà xã hội cần,  đã và đang sử dụng. Học sinh được cung cấp các kiến thức về công nghệ sẽ có khả năng sử dụng công nghệ thành thạo để hỗ trợ đem lại tính hiệu quả cao hơn, nhanh hơn, chính xác trong công việc. Trong nền giáo dục không có Công nghệ (T) và Kỹ thuật (E) thì học sinh chỉ được trang bị những kỹ năng về lý thuyết, khái niệm, nguyên lý, công thức, định luật mà không được trang bị kiến thức để áp dụng vào thực tiễn. Vì vậy việc kết hợp các kỹ năng về STEM ngày càng trở nên quan trọng trong thế kỷ 21.
Trong bối cảnh hiện nay, khi cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ như một “cơn bão” với các tác động to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường toàn cầu, hứa hẹn mang đến cả cơ hội và thách thức cho Việt Nam. Lợi thế nhân công lao động giá rẻ của Việt Nam sẽ dần mất đi mà thay vào đó là yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao khi các hệ thống máy móc và robot hiện đại thay thế nhân công trong các dây chuyền sản suất. Yêu cầu của xã hội dẫn đến phương pháp giáo dục cần thay đổi mạnh mẽ để đem lại cho người học những kỹ năng và kiến thức cơ bản lẫn tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi với các thách thức công việc mới. Giáo dục STEM là một định hướng được Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn trong những năm gần đây nhằm đào tạo những học sinh có những kỹ năng cần thiết của thế kỷ 21 đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực.
Giáo dục STEM là phương pháp tiếp cận liên ngành tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học để mang đến cho học sinh những trải nghiệm thực tế thực sự có ý nghĩa. Việc dạy và học STEM tăng tính hấp dẫn với học sinh, giúp học sinh hiểu sâu hơn vấn đề để đạt được hiệu quả học tập tốt hơn. 
Những học sinh được thụ hưởng giáo dục STEM sẽ được học tập chủ yếu dựa trên thực hành và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, các phương pháp giáo dục tiến bộ, linh hoạt nhất như học qua dự án – chủ đề, học qua trò chơi. Học sinh sẽ có những ưu thế nổi bật như: kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học chắc chắn, khả năng sáng tạo, tư duy logic, hiệu suất học tập và làm việc vượt trội và có cơ hội phát triển các kỹ năng mềm toàn diện hơn. Với học sinh phổ thông, việc theo học các môn học STEM còn có ảnh hưởng tích cực tới khả năng lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Khi được học nhiều dạng kiến thức trong một thể tích hợp, học sinh sẽ chủ động thích thú với việc học tập thay vì thái độ e ngại hoặc tránh né một lĩnh vực nào đó, từ đó sẽ khuyến khích các em có định hướng tốt hơn khi chọn chuyên ngành cho các bậc học cao hơn và sự chắc chắn cho cả sự nghiệp về sau.
2. Những đổi mới trong đào tạo giáo viên đáp ứng giáo dục STEM
Với định hướng giáo dục STEM của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt các trường Sư phạm trước nhiều thách thức lớn. Các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học từ các trường đại học Sư phạm cần thay đổi mạnh mẽ để đào tạo giáo viên có những kiến thức cơ bản lẫn tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi đáp ứng yêu cầu của giáo dục STEM. Đặc biệt cần có sự thay đổi tích cực trong công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên các chuyên ngành Sư phạm Toán, Khoa học Tự nhiên (Vật lý, Hoá học, Sinh học) từ đổi mới chương trình đào tạo đến tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và trang bị hệ thống cơ sở vật chất phù hợp.
2.1. Đổi mới Chương trình đào tạo
Công tác đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đã được các trường Đại học Sư phạm đặc biệt chú ý. Một trong những điểm nổi bật trong đào tạo giáo viên là công tác xây dựng và phát triển chương trình đào tạo (CTĐT) đáp ứng yêu cầu của chương trình GD phổ thông mới được các trường thực hiện một cách hệ thống, khoa học. Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên (ĐHSP – ĐHTN) đã có 5 ch CTĐT được xây dựng theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp (POHE) đó là chương trình Sư phạm Toán, Sư phạm Vật lý, Sư phạm Lịch sử, Sư phạm Thể dục thể thao và Tâm lý giáo dục.
Với mục tiêu đào tạo đội ngũ giáo viên (GV) có đủ năng lực để có thể dạy chuyên sâu các môn khoa  học (Vật lý, Hoá học hoặc Sinh học) và dạy môn KHTN ở bậc THCS, CTĐT giáo viên các môn thuộc khối KHTN đã có nhiều thay đổi với các định hướng:
i) CTĐT xây dựng có sự kết hợp và phân phối cân đối giữa các khối kiến thức chuyên ngành và khối kiến thức rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Thời lượng dành cho khối kiến thức đào tạo năng lực sư phạm và thực tập, thực tế chuyên môn đề xuất chiếm khoảng 50% trong tổng số chương trình đào tạo. Với thời lượng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm như vậy, sinh viên tốt nghiệp sẽ có những kiến thức và kinh nghiệm thực tế về chuyên môn, nghiệp vụ, có thể đảm nhận tốt công việc giảng dạy tại trường phổ thông.
ii) CTĐT giáo viên giảng dạy KHTN ở các trường phổ thông cần đáp ứng cung cấp cho người học nền tảng kiến thức rộng về KHTN. Do đó CTĐT được xây dựng có tỷ lệ các học phần thuộc các khối kiến thức KHTN (Vật lý, Hoá học, Sinh học, Địa lý tự nhiên, Khoa học trái đất và môi trường) hợp lý. Ví dụ, với mục tiêu đào tạo giáo viên vừa có năng lực giảng dạy Vật lý chuyên sâu, vừa có năng lực giảng dạy các môn KHTN, trong CTĐT ngoài khối kiến thức cơ sở ngành và chuyên ngành Vật lý còn có thêm khối kiến thức đảm bảo sinh viên tốt nghiệp có nền tảng kiến thức KHTN rộng (có các học phần Hoá học, Sinh học, Khoa học trái đất và môi trường, …)
 iii) CTĐT được thiết kế theo nguyên tắc gồm các học phần có tính liên thông cao để sinh viên có thể lựa chọn các môn học giảng dạy cho phù hợp; giảm số giờ giảng dạy lý thuyết, loại ra khỏi chương trình các môn học mang tính hàn lâm, tăng cường thực hành, thực tế, thảo luận và hoạt động nhóm. Tỷ lệ giữa giờ lý thuyết và thực hành là cỡ 50:50 để người học tự chủ hơn, hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu, tăng cường năng lực thực hành và làm việc nhóm.
iv, CTĐT có các học phần và chuyên đề về dạy học tích hợp KHTN, có học phần tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo để sinh viên tốt nghiệp ra trường có năng lực dạy học tích hợp và năng lực thiết kế các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh.
v) CTĐT chú trọng công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên, tăng cường các học phần về phương pháp giảng dạy bộ môn nhằm trang bị cho sinh viên hệ thống các phương pháp dạy học và cập nhật những vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông. Bên cạnh đó, CTĐT cũng tập trung vào thực hành ở các trường phổ thông: giảng dạy, tổ chức các hoạt động cho học sinh phổ thông, giải quyết các tình huống sư phạm thực tế tại các trường phổ thông…. Tăng thời lượng sinh viên xuống trường phổ thông thực hành, thực tế. Chương trình được thiết kế cho sinh viên đi thực tế ở các trường phổ thông từ học kỳ 1 năm thứ hai (học kỳ 3 trong chương trình) với những nhiệm vụ và yêu cầu cụ thể khi đến thực tập, thực tế tại trường phổ thông.
vi) CTĐT có chuẩn về năng lực đọc hiểu, soạn giảng, giao tiếp sư phạm bắt buộc sinh viên phải vượt qua để có thể thực hành sư phạm kỳ cuối cùng ở trường phổ thông.
CTĐT của khối ngành Khoa học tự nhiên (Vật lý, Hoá học, Sinh học) trang bị cho sinh viên các kiến thức cơ bản về KHTN, Khoa học xã hội, Khoa học giáo dục, Toán học, các kiến thức chuyên sâu về Vật lý, Hoá học, Sinh học với tỷ lệ các môn học thí nghiệm, thực hành khá cao. CTĐT cũng trang bị cho sinh viên năng lực tự học, tự nghiên cứu, năng lực phát triển chương trình, các kỹ năng sư phạm cần thiết của người giáo viên và khả năng thích ứng linh hoạt trong môi trường làm việc mới. Do vậy, CTĐT của khối ngành KHTN có nhiều điểm tương thích và phù hợp với đào tạo đáp ứng yêu cầu Giáo dục STEM.
Bên cạnh phát triển CTĐT, các giảng viên của trường Đại học Sư phạm cũng thường xuyên được cử đến thực tế tại các trường Phổ thông để bám sát các yêu cầu thực tiễn ở các trường phổ thông. Hoạt động thực tế phổ thông của các giảng viên nhằm tăng cường sự gắn kết giữa các trường sư phạm và trường phổ thông trong đào tạo năng lực nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm.
2.2. Công tác nghiên cứu Khoa học của sinh viên
Song song với việc được đào tạo bởi CTĐT mới, cập nhật; công tác nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên cũng cần được triển khai mạnh mẽ ở cả hướng nghiên cứu khoa học giáo dục và nghiên cứu cơ bản. Sinh viên được tham gia NCKH từ bước đề xuất ý tưởng, viết đề cương nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu, viết báo cáo và bảo vệ kết quả NCKH của mình. Đã có nhiều sinh viên thực hiện thành công đề tài NCKH của mình và đạt giải cao trong các cuộc thi tài năng NCKH sinh viên toàn quốc. Năng lực NCKH cũng là một năng lực cốt lõi mà giáo viên cần có để có thể hướng dẫn và tổ chức cho học sinh NCKH ở trường phổ thông.
Bên cạnh công tác NCKH của sinh viên, các trường Sư phạm cũng đã hỗ trợ các trường phổ thông trong NCKH của học sinh. Nhiều đề tài, dự án NCKH của học sinh phổ thông được thực hiện dưới sự tư vấn, hướng dẫn của các giảng viên hoặc phần thực hành, thí nghiệm của đề tài được thực hiện tại các phòng thí nghiệm của trường Sư phạm. Tuy vậy, công tác hỗ trợ học sinh NCKH cũng cần được các trường Sư phạm triển khai mạnh mẽ hơn nữa. Thực tế hiện nay, nhu cầu NCKH của học sinh lớn mà các trường Sư phạm chưa phát huy hết công năng của mình trong công tác hỗ trợ học sinh NCKH do mối liên kết giữa các trường sư phạm với các trường phổ thông chưa đủ chặt chẽ.
2.3. Tăng cường các hoạt động thực tế, trải nghiệm
Một trong các nhiệm vụ của dạy học các môn KHTN ở trường phổ thông là giáo dục Kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh. Đáp ứng nhiệm vụ này, chương trình đào tạo mới của Trường Đại học Sư phạm đã tạo điều kiện cho sinh viên được rèn luyện thông qua các hoạt động thực hành dạy học, thiết kế các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, xây dựng các chủ đề tích hợp trong quá trình học tập.
   Sinh viên Đại học Sư phạm Thái Nguyên hướng dẫn học sinh trường THPT Vùng Cao Việt Bắc TP Thái Nguyên thiết kế đèn xoay.
    Sinh viên Đại học sư phạm Thái Nguyên với hoạt động thiết kế máy bay theo lịch sử phát triển của ngành hàng không.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chú trọng kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, hướng tới mục tiêu phát triển năng lực ứng dụng tích hợp trong dạy học ở trường phổ thông, rèn luyện tư duy liên kết các sự vật, hiện tượng với các ứng dụng kỹ thuật trong thực tế cho sinh viên. Sinh viên sư phạm được thực hành tổ chức và hướng dẫn học sinh tại một số trường phổ thông đề xuất ý tưởng và thiết kế các máy thông minh, đồ chơi hay các dụng cụ đơn giản trong đời sống. Các hoạt động trải nghiệm này sẽ khắc phục rào cản lớn nhất trong giáo dục truyền thống là sự tách rời giữa bốn lĩnh vực quan trọng: khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. 
Để đưa các nghiên cứu ứng dụng tới trường phổ thông, các khoa Vật lý, Hoá học, Sinh học cần kết hợp với các khoa Toán, Giáo dục thể chất, Bộ môn Nghệ thuật trong thiết kế các hoạt động trải nghiệm định hướng giáo dục STEM dành cho học sinh và giáo viên tại các trường phổ thông. Hình thức tổ chức có thể thực hiện dưới dạng ngày hội trải nghiệm sáng tạo, các khoá bồi dưỡng… Các khoa cần khai thác hiệu quả cơ sở vật chất đã được trang bị và huy động đội ngũ giảng viên, sinh viên, học viên sau đại học cùng thực hiện.
2.4. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo đáp ứng yêu cầu Giáo dục STEM
Để thực hiện CTĐT mới và các hoạt động thực hành, thí nghiệm trong đào tạo giáo viên đáp ứng giáo dục STEM, cơ sở vật chất cần được trang bị hệ thống và phù hợp. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo đáp ứng yêu cầu Giáo dục STEMgồm hệ thống phòng học thông minh, hệ thống phòng thí nghiệm, thực hành, tài liệu, học liệu số trong trung tâm thư viện, phòng thực hành máy tính có cài đặt các phần mềm phục vụ học tập, đào tạo trực tuyến, một số dụng cụ, máy móc thông dụng để sinh viên, học viên sau khi thiết kế ý tưởng trên máy tính có thể thực hành chế tạo… Việc thực hành trên các phòng thí nghiệm sẽ giúp cho người học hình thành kỹ năng kỹ thuật, hiểu được quy trình sản xuất và tạo ra sản phẩm.
Trường ĐHSP - ĐHTN có Trung tâm phát triển kỹ năng sư phạm với hệ thống cơ sở vật chất được trang bị hiện đại: phòng học thông minh, hệ thống máy tính đầy đủ, trang thiết bị hiện đại, phòng học trực tuyến kết nối với trường phổ thông thực hành. Các phòng thí nghiệm Lý – Hoá – Sinh của trường cũng đã được trang bị tương đối đầy đủ và hệ thống, các trang thiết bị được khai thác hiệu quả.
Trong đề án xây dựng trung tâm thực hành thí nghiệm đáp ứng CTĐT mới của trường ĐHSP - ĐHTN, các phòng thực hành Lý – Hoá – Sinh và KHTN được đề xuất xây dựng theo hướng tích hợp, khai thác tối đa hiệu quả phục vụ cho đổi mới giáo dục phổ thông, phục vụ cho công tác NCKH của học sinh phổ thông, sinh viên và là trung tâm trải nghiệm khoa học của học sinh phổ thông. Các góc trải nghiệm chính là cơ sở để học sinh phổ thông thực hiện các thí nghiệm, các nghiên cứu, các trải nghiệm của bản thân khi đến với trường Đại học sư phạm. Hệ thống các góc trải nghiệm trong dự án được thiết kế sao cho mỗi học sinh tham gia hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường Đại học Sư phạm đều được tự do lựa chọn trong khoảng thời gian học tập theo yêu cầu của chương trình Giáo dục phổ thông mới. Chính nhờ các góc trải nghiệm, học sinh được làm, được quan sát, được bồi dưỡng tư duy, phát triển năng lực sáng tạo. Đây chính là các hoạt động nhằm hiện thực hoá giáo dục STEM.
2.5. Những kiến nghị, đề xuất
Trường ĐHSP - ĐHTN đã có những định hướng cụ thể với các giảng viên thực hiện CTĐT mới, đó là tổ chức cho sinh viên thiết kế các dự án vận dụng kiến thức, kỹ năng hình thành trong quá trình học tập của môn học vào thực tế. Tuy nhiên, để thực hiện đào tạo giáo viên giảng dạy theo định hướng giáo dục STEM cần có những sự thay đổi mạnh mẽ, đồng bộ trong công tác đào tạo giáo viên của các trường sư phạm. Chúng tôi có một số đề xuất, kiến nghị:
- Cần có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các trường phổ thông và các trường Sư phạm trong đào tạo giáo viên. Các trường phổ thông cần coi công tác phối hợp với các trường sư phạm trong đào tạo giáo viên như là một nhiệm vụ thường xuyên của mình.
- Bộ giáo dục cần đầu tư kinh phí cho các trường sư phạm trong đào tạo giáo viên bao gồm đầu tư về cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm ban đầu và đầu tư kinh phí thường xuyên để duy trì cho hệ thống các phòng thực hành, thí nghiệm này hoạt động.
- Cần có các tập huấn về giáo dục STEM cho giảng viên các trường Sư phạm để giảng viên có những kiến thức cập nhật về phương pháp giáo dục này.
- Các giáo viên phổ thông cần được bồi dưỡng về năng lực tổ chức các hoạt động nhằm hình thành các kỹ năng chính của thế kỷ 21 như tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề, tính sáng tạo và kỹ năng phát kiến,… thông qua thực hành, trải nghiệm thực tế và tổ chức các hoạt động cụ thể.
- Các trường Sư phạm và các sở giáo dục và đào tạo, các trường phổ thông cần ký kết các chương trình liên kết đào tạo, giáo dục, NCKH ưu tiên liên kết thực hiện các chương trình Giáo dục trải nghiệm sáng tạo của học sinh ở các trường phổ thông.
Kết luận
Giáo dục STEM là phương pháp tiếp cận liên ngành tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học để mang đến cho học sinh những trải nghiệm thực tế thực sự có ý nghĩa. Học sinh được thụ hưởng giáo dục STEM sẽ có những năng lực cần thiết của người công dân thế kỷ 21, có những kiến thức và kỹ năng theo chuẩn quốc tế. Khi áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới với định hướng giáo dục STEM, đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt thực hiện và quyết định sự thành công của chương trình. Các trường Sư phạm đã có những sự chuẩn bị và thay đổi nhất định trong công tác đào tạo giáo viên đáp ứng giáo dục STEM. Tuy nhiên, các trường sư phạm vẫn cần có sự thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong công tác phát triển CTĐT, tổ chức đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, chuẩn bị về cơ sở vật chất có thể đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng giáo viên giảng dạy và hướng dẫn học sinh NCKH trong chương trình GDPT mới.
 
Tài liệu tham khảo
2.      Báo cáo đổi mới chương trình đào tạo ngành Sư phạm Vật lý – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên
 * Báo cáo tại Hội thảo GIÁO DỤC STEM TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG VIỆT NAM, Hà nội, ngày 30 tháng 5 năm 2017
TS. Vũ Thị Hồng Hạnh
(Trường Đại Học Sư Phạm-Đại Học Thái Nguyên)
XEM THÊM
Chương trình GDPT tổng thể: Đổi mới đào tạo giáo viên khoa học tự nhiên (10/05/2017)
Xây dựng chương trình đào tạo ngành Vật lý theo định hướng nghề nghiệp (22/08/2016)
Triển khai chính sách tinh giản biên chế (23/08/2016)
VIDEO  Xem thêm >>
Đăng ký
Ghi nhớ
Hôm nay 139
Hôm qua 156
Tuần này 977
Tuần trước 2177
Tháng này 5224
Tháng trước 8009
Tổng lượt truy cập 121460
Hiện có 69 khách truy cập
Lên đầu trang